Nghiên cứu “Độ an toàn của probiotics và synbiotics với trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi”

Mặc dù men vi sinh đã được đưa ra nghiên cứu từ những năm 1900, tuy nhiên ở Việt Nam đây lại một lĩnh vực rất mới. Nghiên cứu về việc bổ sung men vi sinh vào đường ruột đã chứng minh hệ vi sinh đường ruột hỗ trợ các chức năng sinh lý, trao đổi chất khác nhau chẳng hạn như lưu trữ năng lượng, lên men, tổng hợp các axit amin và vitamin (Vyas và Ragnanathan, 2012). Một vai trò rất lớn là là duy trì, phát triển hệ thống miễn dịch của cơ thể (Kamada và cộng sự, 2013).

Tuy nhiên song song với lợi ích được chứng minh, rất nhiều phụ huynh lo lắng đến độ an toàn khi dùng men vi sinh cho trẻ, đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi.

độ an toàn của men vi sinh - 00
Độ an toàn của men vi sinh và prebiotics do M. van den Nieuwboer, E. Claassen, L. Morelli, F. Guarner, R.J. Brummer nghiên cứu, được xuất bản vào 24/1/2014

Để trả lời câu hỏi men vi sinh có an toàn đối với trẻ sơ sinh không, Viện Nghiên cứu Y Dược đã tham khảo và đi sâu tìm hiểu nghiên cứu “Độ an toàn của probiotics và synbiotics với trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi” (Probiotic and synbiotic safety in infants under two years of age) do M. van den Nieuwboer, E. Claassen, L. Morelli, F. Guarner, R.J. Brummer nghiên cứu, được xuất bản vào 24/1/2014.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã đánh giá các khía cạnh an toàn trong các thử nghiệm lâm sàng sử dụng men vi sinh đối với trẻ sơ sinh từ 0 – 2 tuổi một cách hệ thống. Mỗi loại men vi sinh có thể chứa một hoặc một vài loài lợi khuẩn khác nhau, mỗi loài lợi khuẩn lại được phân ra thành nhiều chi và chủng, lại tác động đến cơ thể theo những cách của riêng chúng. Độ an toàn của men vi sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: loài, chi, chủng vi sinh, liều lượng, thời gian sử dụng, đặc điểm đối tượng (rối loạn tiêu hoá, béo phì, suy dinh dưỡng …)

Kêt quả phân tích 57 thử nghiệm lâm sàng với probiotics và synbiotics kết hợp với 8 nghiên cứu follow-up chỉ ra: việc sử dụng probiotics cho trẻ từ 0 đến 24 tháng là an toàn, gần như không có sự kiện bất lợi nhẹ hoặc sự kiện bất lợi nghiêm trọng nào được gây ra do việc sử dụng probiotics.

Nội dung của nghiên cứu độ an toàn của men vi sinh như sau:

Nguồn dữ liệu: Cơ sở dữ liệu PubMEd (Thư việc Y Dược Quốc Gia) => Các ca lâm sàng sẽ được lấy từ đây để phân tích.

Thời gian: Lấy từ khoảng 2008 – 2013.

Phương pháp: in vivo (áp dụng trên cơ thể người), không dùng các dữ liệu trên động vật hoặc in vitro (trong phòng thí nghiệm).

Độ tuổi của đối tượng sử dụng: 0 – 24 tháng.

Lựa chọn chi, chủng, loài vi sinh: Không giới hạn.

Với các yêu cầu trên thì có 65 nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn, 57 nghiên cứu gốc và 8 nghiên cứu follow-up.

độ an toàn của men vi sinh - 1
139 nghien cứu lâm sàng, tuy nhiên chỉ dựa trên 57 nghiên cứu phù hợp đánh giá tính an toàn cho trẻ từ 0 – 24 tháng và 8 nghiên cứu follow -up

Thang đánh giá sự kiện bất lợi của men vi sinh: AEs (sự kiện bất lợi – hay hiểu đơn giản là sự kiện bất lợi của men vi sinh), được phân loại dựa trên tiêu chuẩn CTCAE (Common Terminology Criterita for Adverse Events. Tiêu chuẩn CTCAE phân loại sự kiện bất lợi AEs thành 26 mục thang điểm dựa trên tính nghiêm trọng.

(Xem thêm: 11 tác dụng được kiểm chứng của Lactobacillus Reuteri)

độ an toàn của men vi sinh - 1
Table 1: CTCAE phiên bản 4.0 là thuật ngữ, phân chia các sự kiện bất lợi AE thành 26 mục. Mục thứ 27 “không xác được” được thêm vào vì không phải tất cả các sự kiện bất lợi đều có thể phân mục. Table 2: Danh sách các nghiên cứu lâm sàng được đánh giá từ năm 2008 – 2013

Kết quả nghiên cứu độ an toàn của men vi sinh:

57 nghiên cứu gốc có sự tham gia của 10.056 đối tượng trẻ em từ 0 – 24 tháng tuổi.

5643 trẻ dùng men vi sinh, 4413 trẻ dùng giả dược.

Tình trạng sức khoẻ của trẻ em được phân ra thành 4 nhóm sau:

(1) Trẻ không rối loạn chia thành các nhóm nhỏ: trẻ khoẻ mạnh, bú sữa công thức, sinh mổ, và có nguy cơ dị ứng.

(2) Trẻ sinh non, từ khoẻ mạnh đến trẻ có cân nặng rất thâp (<1,5kg).

(3) Trẻ sơ sinh bị rối loạn tiêu hoá, chia thành các nhóm nhỏ: tiêu chảy, đau bụng không rõ lý do, táo bón kinh niên, và nôn trớ.

(4) Rối loạn tổn thương như viêm da, dị ứng đạm sữa bò, eczema (tổ đỉa).

độ an toàn của men vi sinh - 4
Tương ứng với từng chủng lợi khuẩn có bao nhiêu trẻ tham gia nghiên cứu. Ví dụ một số chủng vi sinh của Zeambi: L. Paraceisi CUL08:197 trẻ, L Paraceisi ST11: 119 trẻ, L. Paraceisi F19: 89 trẻ, L. reuteri DSM 17938: 483 trẻ, L. Reuteri ATCC 55730: 83 trẻ….

Liều dùng tối thiểu, trung bình và tối đa/ ngày:

Tính trung bình trẻ dùng liều khoảng 2,79 x 1010 cfu/ngày, tối đa là 2 x 1012, tối thiểu là 7 x 10cfu/ngày

Ví dụ với các chủng trong men vi sinh Zeambi: L. Paraceisi CUL08: 10 x 108, L Paraceisi ST11: 10 x 108 đến 10 x 109, L. Paraceisi F19: 7 x 107, L. reuteri DSM 17938: 7 x 107, L. Reuteri ATCC 55730: 7 x 107 …)

Nhìn chung là tuỳ vào vấn đề trẻ gặp phải mà sử dụng những chủng vi sinh khác nhau và liều khác nhau. Tuy nhiên là, đối với trẻ sơ sinh và trẻ sinh non gặp các vấn đề rối loạn tiêu hoá, L. Reuteri trong Zeambi được sử dụng nhiều thứ 2.

Nghiên cứu về thời gian sử dụng:

Thời gian sử dụng trung bình của 57 ca lâm sàng là 121 ngày. Đại đa số trẻ sử dụng probiotics trong thời gian là 6 tháng (46 nghiên cứu), một nghiên cứu dùng trong 2 năm. Trẻ tiêu chảy dùng men vi sinh trong thời gian ngắn nhất là 5 ngày, trong khi đó nhóm trẻ có nguy cơ dị ứng cần dùng thời gian dài nhất là 266 ngày.

Thời gian nghiên cứu trung bình đối với trẻ khoẻ mạnh và bú sữa công thức là trên 4 tháng.

Nghiên cứu về sự kiện bất lợi của men vi sinh đối với trẻ được phân chia thành các cấp độ từ: Không có ảnh hưởng gì, đến phát sinh các biến chứng.

độ an toàn của men vi sinh - 3
Study duration: Thời gian sử dụng men vi sinh trong nghiên cứu. Safety statmen of studies: Tình trạng an toàn của các nghiên cứu dựa trên sự kiện bất lợi.

28% trường hợp không có sự kiện bất lợi gì, 26% trường hợp khẳng định có sự kiện bất lợi không phải do sử dụng men vi sinh, 12% không có sự khác nhau giữa sự kiện bất lợi do sử dụng men vi sinh so với nhóm dùng giả dược, 11% các trường hợp có sự kiện bất lợi rất rất ít, 21% nghiên cứu không ghi lại về tính an toàn, chỉ có 2% có sự kiện bất lợi khác.

Liều dùng theo từng nhóm vấn đề trẻ gặp phải:

  • Liều cao nhất vơi trẻ bị tiêu chảy: 2 x 107 đến 2 x 1012 cfu/ngày.
  • Nhóm trẻ nôn trớ hoặc táo bón dùng liều thấp nhất.
  • Nhóm trẻ sử dụng sữa công thức dùng liều 1 x 1010 cfu/ngày.
  • Liều thấp nhất dành cho trẻ sinh non: 7 x 106, trung bình dùng liều 2 x 109.

Dữ liệu từ các nghiên cứu follow-up không đưa ra bất kỳ mối lo ngại nào khi sử dụng men vi sinh đối với trẻ. Thêm vào đó, Kukkonenetal (2008) còn chỉ ra rằng sự phối hợp sử dụng các lợi khuẩn là an toàn trong thời gian dài và tăng cường miễn dịch chống lại với các bệnh viêm đường hô hấp.

Số người tham gia nghiên cứu được phân thành các nhóm như sau:

độ an toàn của men vi sinh - 06
Đối tượng nghiên cứu độ an toàn của men vi sinh

Kết luận độ an toàn của men vi sinh với trẻ dưới 2 tuổi

Phân tích 57 thử nghiệm lâm sàng với lợi khuẩn và synbiotics kết hợp với 8 nghiên cứu follow – up, được xuất bản từ 2008 – 2013 chỉ ra việc sử dụng probiotics với trẻ tù 0 – 24 tháng tuổi là an toàn dựa trên các chủng vi sinh và tình trạng sức khoẻ cụ thể.

Phần lớn các sự kiện bất lợi là không liên quan đến vi sinh hoặc là không phải là sự kiện bất lợi quá lớn. Hầu hết các thử nghiệm lâm sàng đều kết luận rằng các sự kiện bất lợi là không liên quan tới vi sinh. Chỉ duy nhất 1 trường hợp báo cáo về việc gây ra biến chứng như phân lỏng, nôn trớ, bỏ ăn hoặc là đau bụng, mắc dù vậy nó không phổ biến và không nghiêm trọng.

Nghiên cứu này phân tích việc sử dụng thực phẩm bổ sung probiotics với trẻ sơ sinh bị eczema từ độ tuổi 3 – 6 tháng có tác dụng điều trị và thay đổi tiến triển tình trạng dị ứng. Những trẻ này sử dụng L. Paraceisi CNCM I-2116 hoặc là B. Lactis CNCM I – 3446, kết hợp với sữa thuỷ phân. Còn các nghiên cứu khác thì cho thấy 2 chủng này k gây ra bất kỳ trường hợp nào cả.

Dữ liệu review thể hiện không có sự khác biệt về sự kiện bất lợi khi sử dụng probiotics so với nhóm không sử dụng. Tỷ lệ xảy ra sự kiện bất lợi của nhóm dùng men vi sinh chỉ có 0,458 trong khi của nhóm giả dược là 0.579.

Chỉ có 21 nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về sự kiện bất lơị giữa nhóm dùng và không dùng men vi sinh. Nhưng hầu hết các trường hợp đều cho thấy những hiệu quả tích cực khi sử dụng men và, tần suất sự kiện bất lợi trong nhóm không sử dụng men vi sinh còn cao hơn nhiều.
Mặc dù kết quả rất tích cực tuy nhiên cũng còn có vài lo ngại.

Scalabrinn et al. (2009) cho thấy nhiều trẻ sơ sinh uống sữa công thức khóc nhiều và Kopp et al. (2008) cho thấy nhóm trẻ có nguy cơ dị ứng gia tăng bất lợi về viêm phế quản sau khi bổ sung lợi khuẩn L. rhamnosus GG, tuy nhiên nó chỉ xảy ra ở mẫu rất nhỏ (n = 54), và không còn lặp lại trong các nghiên cứu lâm sàng khác của chủng L. rhamnosus GG.

Mắc dùng mục đích chính của nghiên cứu này không phải xét đến tính hiệu quả của probiotics tuy nhiên các nghiên cứu hầu hết đều chỉ ra tác động tích cực: tăng tần suất đi cầu, làm mềm phân, giảm tiêu chảy là những kết quả tích cực được chỉ ra nhiều nhất. Kêt quả điều trị tiêu chảy với trẻ sinh non và sơ sinh cũng rất hứa hẹn, lợi khuẩn giúp giảm thời gian tiêu chảy, ngăn cản tình trạng mất nước.

Nguồn: https://www.wageningenacademic.com/doi/pdf/10.3920/BM2013.0046

M. van den Nieuwboer , E. Claassen , L. Morelli , F. Guarner and R.J. Brummer, Probiotic and synbiotic safety in infants under two years of age 24/1/2014.

Keywords: , ,